01/04/2026 6:06:05

GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT THÁNG 01/2026

Câu 1.

Pháp luật quy định về đối tượng tham gia và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp như thế nào?

Trả lời:

Đối tượng tham gia và mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Điều 32 và Điều 35 Luật Việc làm năm 2025 (74/2025/QH15 ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2025) như sau:

“Điều 32. Tham gia bảo hiểm thất nghiệp

1. Việc xác định đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp, điều chỉnh thông tin đăng ký kê khai tham gia bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện đồng bộ với việc xác định đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, điều chỉnh thông tin đăng ký kê khai tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

2. Việc tham gia, đóng, hưởng bảo hiểm thất nghiệp được ghi nhận trong sổ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật này.

Điều 35. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

2. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp được bảo lưu theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 41 của Luật này.

3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức.

4. Chính phủ quy định về thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.”

Câu 2.

Người lao động trong thời gian thử việc mà bị cho thôi việc có được trả lương trong ngày không?

Trả lời:

Căn cứ Khoản 2 Điều 27 Bộ luật Lao động 2019 quy định về kết thúc thời gian thử việc, quy định như sau:

“2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.”

Như vậy, trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Về tiền lương thử việc tại Điều 26 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:

“Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.”

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng thử việc với người lao động, công ty có trách nhiệm trả lương đầy đủ cho người lao động thử việc trong những ngày người lao động đã làm việc với mức lương theo thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 85% mức lương công việc đó trong những ngày mà người lao động đã làm việc.

Về thời hạn trả lương do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng thử việc theo quy định tại Điều 21 và Điều 24 Bộ luật Lao động 2019 hoặc theo thỏa thuận khác giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật.

Câu 3.

Người lao động đồng thời làm việc tại nhiều doanh nghiệp theo nhiều hợp đồng lao động thì việc tham gia bảo hiểm xã hội được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động. Tuy nhiên, việc tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc được thực hiện như sau:

1. Bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Người lao động và người sử dụng lao động chỉ đóng BHXH và BHTN theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.

2. Bảo hiểm y tế (BHYT): Người lao động tham gia BHYT theo hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất.

3. Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động phải tham gia theo từng hợp đồng lao động với từng người sử dụng lao động.

        

Câu 4.

Trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phối hợp giải quyết khiếu nại được quy định như thế nào trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp?

Trả lời:

Căn cứ Điều 5 Luật Khiếu nại 2011 thì trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phối hợp giải quyết khiếu nại được quy định như sau:

“Điều 5. Trách nhiệm giải quyết khiếu nại và phối hợp giải quyết khiếu nại

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết khiếu nại được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

2. Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc khiếu nại theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật của mình; nếu trái pháp luật phải kịp thời sửa chữa, khắc phục, tránh phát sinh khiếu nại.

Nhà nước khuyến khích việc hòa giải tranh chấp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó.”

         

Câu 5.

Cán bộ, công chức được hiểu và quy định như thế nào trong cơ quan của Đảng CSVN và tổ chức chính trị – xã hội?

Trả lời:

Căn cứ Điều 1 Luật cán bộ, công chức 2025 thì cán bộ, công chức được hiểu và quy định như sau:

Điều 1. Cán bộ, công chức

1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm hoặc chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp xã; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an; trong tổ chức cơ yếu mà không phải là người làm công tác cơ yếu, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

Văn phòng Tư vấn pháp luật