Quyền lợi người lao động làm việc ngoài giờ tham gia phòng chống dịch Covid-19

Trước đại dịch Covid-19, nhiều lao động bị mất việc làm, giảm việc làm, ngừng việc, nhưng nhiều người lao động lại miệt mài làm việc, không được về với gia đình, không có cả thời gian nghỉ. Vậy quyền lợi của người lao động được hưởng là gì?

Bảo vệ trực khai báo thông tin trước khi vào tòa nhà

Theo Bộ luật Lao động 2012 (áp dụng đến 31/12/2020), người lao động được hưởng lương làm thêm giờ, lương làm việc vào ban đêm như sau:

Thời gian làm thêm giờ (Điều 106, 107 Bộ luật Lao động 2012)

– Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

– Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi: Được sự đồng ý của người lao động; Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

– Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.

– Đặc biệt hơn người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào và người lao động không được từ chối trong các trường hợp sau đây:

+ Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

+ Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa.

Thời giờ làm việc ban đêm (Điều 105 Bộ luật Lao động 2012): Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Cách tính lương làm thêm giờ 

– Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau (khoản 1 Điều 97 Bộ luật Lao động 2012):

+ Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

+ Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

+ Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

– Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động được tính như sau (Khoản 1 Điều 6 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH) :

Tiền lương làm thêm giờ = Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% x Số giờ làm thêm

– Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, được trả lương làm thêm giờ khi người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường để làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc ngoài số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc theo định mức lao động đã thỏa thuận và được tính như sau (Khoản 2 Điều 6 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH):

Tiền lương làm thêm giờ = Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% x Số sản phẩm làm thêm

Cách tính lương làm việc vào ban đêm 

– Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường (khoản 2 Điều 97 Bộ luật Lao động 2012):.

– Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính như sau (Khoản 1 Điều 7 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH):

Tiền lương làm việc vào ban đêm = Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường + Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30% x Số giờ làm việc vào ban đêm

– Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm việc vào ban đêm được tính như sau (Khoản 2 Điều 7 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH):

Tiền lương làm việc vào ban đêm = Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường + Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 30% x Số sản phẩm làm vào ban đêm

Cách tính tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm 

– Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày (khoản 3 Điều 97 Bộ luật Lao động 2012):

– Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau (Khoản 1 Điều 8 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH):

Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% + Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường x Mức ít  nhất 30% + 20% x Tiền lương giờ vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số giờ làm thêm vào ban đêm

– Đối với người lao động hưởng lương theo sản phẩm, tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm được tính như sau (Khoản 1 Điều 8 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH):

Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít nhất 150% hoặc 200% hoặc 300% + Đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường x Mức ít  nhất 30% + 20% x Đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương x Số sản phẩm làm thêm vào ban đêm

Nguyễn Tá

Những tin khác cùng chuyên mục:

CĐ DKVN khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích trong công tác phòng chống dịch Covid-19 Tổ chức Tháng hành động ATVSLĐ và Tháng công nhân năm 2020: Cần đảm bảo sức khoẻ của NLĐ và phù hợp với thực tế phòng chống dịch COVID-19 Nâng cao ý thức trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ về ATVSLĐ trong thời điểm dịch bệnh COVID-19 Trách nhiệm của NSDLĐ và quyền lợi của NLĐ khi chấm dứt HĐLĐ do dịch Covid-19 Một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch COVID-19